Thứ Hai, 30 tháng 7, 2012

9 bản đồ cổ chứng minh Trung Quốc không có Hoàng Sa và Trường Sa


1. Trong bản đồ cổ do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước, cực nam nước này là đảo Hải Nam. Trong khi, các bản đồ hàng hải châu Âu đều thể hiện quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

 2. Dư địa đồ đời Nguyên của Chu Tư Bản được vẽ thu nhỏ lại trong sách "Quản Như Đồ của La Hồng Tiên" quyển 1, thực hiện năm 1561, phần cực nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam, không có Hoàng Sa và Trường Sa.

3.  Trong "Đại Minh thống nhất chí" năm 1461, quyển đầu cũng vẽ cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam.
Hoàng Minh đại thống nhất tổng đồ đời Minh, trong "Hoàng Minh chức phương địa đồ" của Trần Tổ Thụ (1635) đã vẽ phần cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam.
 4. Hoàng triều phủ sảnh châu huyện toàn đồ đời Thanh, năm 1862, vẽ theo "Nội phủ địa đồ" gồm 26 mảnh mang tên "Đại Thanh kịch tỉnh toàn đồ" không có Hoàng Sa và Trường Sa.
 5. Quảng Đông tỉnh đồ trong Quảng Đông dư địa toàn đồ, do quan chức tỉnh Quảng Đông vẽ năm 1897, có lời tựa của Tổng đốc Trương Nhân Tuấn không có bất kỳ quần đảo nào ở Quảng Đông.
6.  Đại Thanh đế quốc vị trí khu hoạch đồ (năm 1909) đã vẽ phần cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam.
 7. Bản đồ ghi khoảng cách các đảo gần nhất từ quần đảo Hoàng Sa đến các đảo gần đất liền (trích từ bản đồ Southeast Asia - National Geographic Society - Washington, 1968).
8. Ngoài ra, bản đồ hàng hải châu Âu thế kỷ XV - XVI thể hiện hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Bản đồ Đông Dương của Danvilleen vẽ năm 1735 cũng thể hiện rõ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Đầu năm 2012, huyện đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng) đã phối hợp với Bảo tàng Đà Nẵng phát hành cuốn Kỷ yếu Hoàng Sa. Cuốn kỷ yếu dày hơn 200 trang gồm các phần "Hoàng Sa là của Việt Nam", "Công tác quản lý nhà nước đối với huyện Hoàng Sa", "Hoàng Sa và những nhân chứng lịch sử", "Cảm nghĩ của người Đà Nẵng về Hoàng Sa".
Đặc biệt, kỷ yếu có các tư liệu lịch sử, bằng chứng chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa và phần cảm nhận về Hoàng Sa của 24 nhân chứng từng đến sống và làm việc tại quần đảo này trong những thập niên 50-70 của thế kỷ XX.
9. Và mới đây nhất vào ngày 25/7/2012 là tấm bản đồ được tiến sĩ Mai Ngọc Hồng tặng cho Bảo tàng lịch sử quốc gia:
Xem video:
Trong tấm bản đồ của Trung Quốc xuất bản năm 1904, cực nam của nước này được ghi rõ là đảo Hải Nam, không hề có Hoàng Sa, Trường Sa. Nhà sử học Dương Trung Quốc cho hay, bản đồ "có yếu tố mới về mặt pháp lý".
Ngày 25/7, Bảo tàng Lịch sử quốc gia tiếp nhận một số tài liệu, hiện vật do các tổ chức, cá nhân hiến tặng. Trong đó có bản đồ cổ "Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ" (Toàn bộ bản đồ địa lý của đất nước) do nhà Thanh (Trung Quốc) xuất bản năm 1904 của tiến sĩ Mai Ngọc Hồng (nguyên trưởng phòng tư liệu thư viện của Viện Hán - Nôm, hiện là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam) trao tặng.

"Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ" là tập bản đồ Trung Quốc xuất bản tại Thượng Hải năm 1904 và tái bản năm 1910. Bản đồ này xác định đảo Hải Nam là điểm cực nam lãnh thổ Trung Quốc. Điều đó có nghĩa là các quần đảo ở Biển Đông như Hoàng Sa, Trường Sa nằm ngoài lãnh thổ Trung Quốc.

Bản đồ được in màu, tạo nên từ hơn 35 miếng ghép dán trên nền vải bố, kích cỡ mỗi miếng khoảng 20x30cm. Tiến sĩ Hồng đã gìn giữ nguyên vẹn qua 30 năm. Ông cho biết, vào những năm 1970, khi còn là cán bộ phòng tư liệu, quản lý kho sách của Viện Hán - Nôm, trong quá trình sưu tầm sách, tư liệu cổ cho Viện, ông đã mua được tấm bản đồ từ một cụ già tên là Nguyễn Văn Công. Cũng giống như nhiều tư liệu mà Viện không sử dụng, ông mua về cất giữ. Mới đây, trong một lần kiểm kê, ông tìm thấy lại tấm bản đồ. "Điều này giống như một cơ duyên", tiến sĩ Hồng nói về tấm bản đồ.

Khi tìm lại được tấm bản đồ, ông đã nghiên cứu, dịch bài dẫn, ghi chú trên bản đồ và bất ngờ về giá trị pháp lý của công trình này. Một trong những giá trị lớn mà ông đánh giá cao là sự nghiêm túc, đầu tư công phu về tư liệu để phục vụ cho việc lập bản đồ với thời gian dài lên đến gần 200 năm, bắt đầu từ thời vua Khang Hy và chỉ được hoàn tất cho xuất bản vào năm 1904. Theo ông, tấm bản đồ này được lập với khối tư liệu đồ sộ, được nhà vua Trung Quốc trực tiếp chỉ đạo thực hiện. Nó không chỉ tập trung trí tuệ của các nhà khoa học phương Tây mà cả Trung Quốc, cho thấy tính nghiêm túc, chính thống và giá trị khoa học của người Trung Quốc đối với bản đồ hiện đại đầu tiên được in ấn, làm theo thiết kế, kỹ thuật của phương Tây, đặc biệt với tỷ lệ xích rất chính xác.

"Đây không phải bản đồ của tư nhân, của địa phương nào mà do vua cùng với các nhà khoa học nghiên cứu khảo sát lâu dài làm ra. Do đó, đây là một cứ liệu lịch sử không thể chối cãi", tiến sĩ Mai Ngọc Hồng khẳng định.
Có mặt tại buổi lễ, Tổng thư ký Hội khoa học lịch sử Việt Nam Dương Trung Quốc cho hay bản đồ "có yếu tố mới về mặt pháp lý". Đây là bản đồ được Trung Quốc vẽ theo phương thức hiện đại của phương Tây, khác với cách vẽ theo cách riêng trước kia, có ghi rõ tọa độ, phù hợp với ngôn ngữ bản đồ hiện nay.

"Giá trị quan trọng nhất không phải giá trị tự thân bản đồ mà là nội dung. Bản đồ xác định cực nam của lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam. Điều này liên quan đến câu chuyện mà chúng ta đang đấu tranh để bảo vệ chủ quyền với Hoàng Sa, Trường Sa", ông nhận xét.

Nhà sử học nhấn mạnh thêm, một trong những chứng lý thể hiện chủ quyền, đó là chứng lý về lịch sử. Trong khi thư tịch và bản đồ của triều đại Việt Nam đã thể hiện Hoàng Sa, Trường Sa trên bản đồ thì trong hoạt động mang tính chất quản lý chủ quyền, trên bản đồ Trung Quốc chưa hề đề cập tới. Ví dụ như, năm 1834 dưới triều Minh Mạng, Việt Nam đã có bản đồ biểu thị cụ thể về dải Vạn Lý ở Trường Sa, ngoài Biển Đông.

"Đây là một yếu tố quan trọng khi xác lập chủ quyền về mặt lịch sử, đặc biệt trong tranh chấp", ông Dương Trung Quốc bình luận về giá trị của "Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ".

Nhà sử học cũng lưu ý về những tài liệu mang tính chất chứng lý phục vụ cho việc củng cố chủ quyền của dân tộc đối với biển đảo, trong đó sách vở không chỉ của Trung Quốc mà còn của nhiều nước khác. Theo ông, Việt Nam nằm trên con đường vận tải biển trọng yếu của thế giới. Vị trí, vùng biển nước ta được thể hiện rất nhiều trên bản đồ của các quốc gia hàng hải trên thế giới như Hà Lan, Anh, Tây Ban Nha...
Admin tổng hợp từ nguồn  tinmoi.vn và http://vnexpress.net
TB: Do khả năng của bản thân có hạn, admin rất mong các bạn chuyển bài viết này sang tiếng Anh và tiếng Trung đồng thời thông cáo rộng rãi để người dân các nước mà đặc biệt là người dân Trung Quốc được biết. Xin trân trọng cảm ơn !


Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

Xu hướng phát triển vũ khí đường không



Vũ khí tấn công đường không có độ chính xác cao đang được ưu tiên phát triển và biên chế trong quân đội nhiều nước. Tuy nhiên, bên cạnh hiệu quả sát thương cần chú ý tới vấn đề tài chính. 
Bàn về vấn đề này, chuyên gia quân sự Aleksandr Khramchikhin, Phó giám đốc Học viện nghiên cứu chính trị và quân sự Nga, đã có một bài viết đăng trên trang mạng Arms-expo. Bài viết này hoàn toàn thể hiện quan điểm của riêng tác giả. 

Dưới đây là nội dung chính của bài viết:

Việc phát triển tên lửa hành trình là hướng đi đầy triển vọng bởi trên thực tế chúng có thể vượt qua được bất kỳ một hệ thống phòng không nào (hiện có rất ít tổ hợp phòng không hiện đại đủ sức chống lại Tomahawk của Mỹ).

Ngày nay, tên lửa loại này có yêu cầu về độ chính xác được nâng cao (sai số CEP không được quá 1 m) nên các loại đầu tự dẫn quang phổ được ứng dụng triệt để. 

Thêm vào đó, việc sử dụng đầu tự dẫn quang phổ cũng loại bỏ được khả năng hỏng hóc trong vận chuyển. Đầu tự dẫn không chỉ được dùng cho tên lửa hành trình mà được dùng cho toàn bộ các loại vũ khí có độ chính xác cao. 


Từ sau Chiến tranh Lạnh, các nước NATO hạn chế tiến tới không sử dụng các loại vũ khí không điều khiển. Năm 1991, trong chiến dịch “Bão táp sa mạc”, khối này sử dụng các loại vũ khí có độ chính xác cao để tấn công các mục tiêu xác định trước. Kết quả, chiến dịch đã thành công. 

Trong chiến tranh ở Libya, để chống lại Gaddafi, NATO cũng sử dụng vũ khí có độ chính xác cao. Vậy là, chỉ cần một lượng vũ khí nhất định, không tiêu tốn quá nhiều nhân lực và vật lực, NATO đã đạt được mục tiêu đề ra.

Vũ khí có độ chính xác cao đang trở thành biểu tượng của những đội quân hiện đại, có sức chiến đấu cao nhưng phương pháp tiến hành chiến tranh của NATO tỏ ra khá dàn trải và rất tốn kém về mặt kinh tế.
Trong nhiều trường hợp, loại vũ khí này thường đắt hơn so với các mục tiêu của nó (chẳng hạn biến thể tên lửa AGM-65 Maveric mới nhất đắt hơn so với xe tăng T-55 hay pháo D-30). Dù vậy, việc sử dụng vũ khí có độ chính xác cao hiện nay vẫn là lựa chọn bắt buộc. 

Đạn dược càng phát triển buộc các máy bay cũng phải phát triển theo. Chẳng hạn, các loại tiêm kích thế hệ 5 đang gặp khó khăn trong việc định hướng mục tiêu cho vũ khí. Lý do là vì tiêm kích thế hệ thứ 5 không nên bật trạm vô tuyến điện trên khoang để đảm bảo yếu tố tàng hình.

Cũng lý do đó, những chiếc tiêm kích thế hệ 5 phải đặt phần lớn vũ khí trong khoang. Điều này dẫn tới sự hạn chế về số lượng, kích cỡ và chủng loại vũ khí. Vì vậy, đối với máy bay tiêm kích thế hệ thứ 4 không nên quan tâm quá đến khả năng tàng hình của chúng,  thay vào đó, nên chú trọng đến tính cơ động của máy bay (điều có thể dẫn đến việc phải thay đổi lại cấu trúc máy bay).

Bên cạnh vũ khí, hiện xu thế phát triển các hệ thống chiến đấu vô tuyến điện cũng đang quan tâm. Các hệ thống này được sử dụng để tấn công hệ thống vũ khí hoặc điện tử, hay tạo ra các mục tiêu giả trên màn hình radar. 

Phương án này tuy có phức tạp hơn nhưng lại hiệu quả hơn rất nhiều bởi nó có thể phá hỏng hệ thống phòng không của đối phương mà không tốn một viên đạn, chưa nói đến các tên lửa chống radar phức tạp.
Thiết bị gây nhiễu MSP-418K.
Bên cạnh đó, vũ khí laser cũng đang là một xu hướng. Hiện nay, vũ khí laser có lẽ chỉ thích hợp dùng trên máy bay khi mục tiêu của nó là máy bay và tên lửa hành trình bởi những hạn chế về trọng lượng, kích cỡ cũng như sức tiêu tốn năng lượng khủng khiếp của nó. Tuy vậy, những hạn chế này lại không phải là vấn đề lớn đối với máy bay ném bom, máy  bay vận tải  hạng nặng và khí cầu.
Hiền Thảo (theo Arms-expo)